Cà phê Trung Nguyên - Giấc mơ từ làng quê nghèo

9:07 PM |

Cà phê Trung Nguyên - Giấc mơ từ làng quê nghèo

Ra đời vào giữa năm 1996 -Trung Nguyên là 1 nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng tạo dựng được uy tín và trở thành thương hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng cả trong và ngoài nước.

Giấc mơ từ làng quê nghèo

Hồi ức về những ngày tháng khởi nghiệp đầy lận đận và gian khó của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên. "Tôi có thể nói không sợ quá lời rằng sự xuất hiện của Trung Nguyên đã mang lại một không khí thưởng thức cà phê mới tại Việt Nam, và ở nhiều nơi trên thế giới giờ đây nói đến cà phê Việt Nam là người ta đều biết tới thương hiệu Trung Nguyên.
Tuổi thơ thời đi học của tôi là cảnh lội bộ trên con đường đất đỏ dài 15km trong suốt chín năm, ngày nắng cũng như mưa. Niềm vui trên con đường dài đến trường và về nhà là khi đi ngang qua trạm thuế vụ, thỉnh thoảng có được quả chuối chín hoặc vài củ khoai lang ăn sống của những người buôn bán tốt bụng cho.
Vui nhất là khi có thể quá giang phía sau chiếc xe chở gạch về nhà khi đôi chân đã muốn quị vì lội bộ. Năm tôi vào lớp 10, gia đình mua cho chiếc xe đạp cũ để lên Buôn Ma Thuột đi học.
Năm 1990, tôi thi đậu Đại học Y khoa Tây nguyên; từ xã Madrăk hẻo lánh, mẹ tôi phải bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ khác trong nhà để tôi lên Buôn Ma Thuột nhập học. Những ngày học ở trường y, lúc nào tôi cũng trăn trở về công việc và cuộc sống của người thầy thuốc. Càng học lên, điều đó càng bứt rứt trong lòng tôi. Muốn có cuộc sống khấm khá hơn, phần nhiều những người học y chúng tôi đã quên lời thề Hippocrate. Xót xa quá! Và với tôi, cách tốt nhất không vi phạm lời thề là... bỏ nó luôn, làm việc khác. Nhưng làm gì đây?
Làm gì ở tuổi 22 tôi chưa biết được. Nhưng luôn thiêu đốt tôi là phải làm được điều gì đó để đổi đời, không thể nghèo mãi được. Mẹ tôi lam lũ quanh năm đầu tắt mặt tối, suốt ngày mặt người lẫn trong ruộng rau lang, chiếc nón cũ hiếm khi rời khỏi đầu. Tôi luôn hình dung lại được cảnh mẹ tôi nặng nhọc bưng từng chồng gạch, hay tất tả chạy ra ruộng rau lang hái đọt non đem bán kiếm miếng ăn cho cả nhà.
Mẹ tôi nghĩ cuộc sống nghèo khổ của gia đình chúng tôi là số mệnh ở trời. Mỗi lần tôi về thăm nhà thì mẹ tôi vừa vui vừa lo. Vui vì có con trai về thăm nhà và lo vì khi tôi rời nhà, bà cụ phải chạy vạy một hai trăm ngàn cho tôi làm lộ phí đến trường. Tôi không bao giờ quên được cái ngày tăm tối đó, khi bố tôi đổ bệnh nặng mà chạy vạy khắp trong dòng tộc không làm sao kiếm đủ 2 triệu đồng cho ông chữa bệnh!
Tôi ở trọ tại Buôn Ma Thuột và làm công luôn cho nhà trọ này: làm cỏ, hái cà phê, đem cơm nước cho nhân công ở rẫy... Ngày còn bé ở làng, tôi đã thạo hết những việc này.

“Đạp tung giường chiếu hẹp”

Tôi luôn nghĩ về những người trồng cà phê, làm vườn lam lũ như bố mẹ tôi. Tôi biết cà phê rất có giá nhưng không biết vì sao người trồng cà phê lại rất nghèo. Nhưng người trồng cà phê vẫn nhẫn nại mỗi ngày cháy da trên nương rẫy, như mẹ tôi, không lời thở than. Tôi không chịu được vậy. Nghĩ tới sự cam chịu là huyết quản tôi sôi sùng sục. Miếng ăn lúc đó đối với tôi không quan trọng bằng suy nghĩ phải sống như thế nào.
Mẹ tôi đã khóc gần như hết nước mắt khi tôi quyết định dứt áo ra đi. Nhiều bạn trong lớp bảo tôi... không bình thường, chỉ có ba người bạn có thể hiểu và chia sẻ được những điều tôi nghĩ – đó là không chấp nhận “ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ con”. Đám bạn vét hết tiền trong túi nhét cho tôi được gần 100.000 đồng.
Tôi ra bến xe đi vào Sài Gòn với một mảnh giấy nhỏ ba tôi ghi tên người chú và địa chỉ nhà ở khu vực Tạ Thu Thâu. 6 giờ sáng, đến bến xe miền Đông, trong túi tôi còn đúng 20.000 đồng. Gọi một ly cà phê vỉa hè 2.000 đồng, tôi ngồi nhâm nhi và mở to mắt nhìn Sài Gòn cho biết. Thành phố to quá, ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi có cảm giác mình đã bước sang một thế giới hoàn toàn khác...

Quay lại giảng đường Đại học!

Chú tôi người Đà Nẵng, vào sống ở Sài Gòn đã lâu. Tôi chưa từng gặp mặt ông và dĩ nhiên ông cũng không thể biết có một đứa cháu là tôi. Mãi đến trưa chú tôi vẫn chưa về. Mệt, đói và buồn ngủ khủng khiếp. Tôi chỉ còn hơn 10.000 đồng, không thể phung phí được. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn tìm lại cái góc nhà nơi mình đã ngồi lần đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn.
May sao quá trưa thì có người bà con từ Đà Nẵng vào. Thím tôi báo vụ việc với người bà con và tôi được gọi vào nhà. Việc đầu tiên là đánh một giấc tới xế chiều. Mở mắt ra đã thấy chú tôi đợi sẵn. Hai chú cháu hàn huyên tâm sự. Tôi bày tỏ nỗi lòng của mình: một, quyết đi không trở lại; hai, việc gì cũng làm; ba, phải đổi đời. Tôi kể với chú những điều tôi nung nấu. Về chuyện nghèo là nhục. Về chuyện ba tôi bệnh mà cả dòng tộc không thể đào đâu ra đủ 2 triệu đồng…
Chú tôi nghe tất cả nhưng rồi “gút”: “Tất cả những điều cháu nung nấu đều đúng nhưng không phải lúc này. Việc lúc này là học cho xong cái đã”. Cuối cùng ông hứa: học cho xong đi rồi xuống Sài Gòn ông giúp cho làm ăn. Còn trước mắt cứ ở chơi, chừng nào chán thì về. Tôi ở đúng 10 ngày thì đầu óc dịu lại, nghĩ đến việc phải về tiếp tục học.
Hôm về, chú mua cho vé máy bay. Lần đầu tiên bay lên bầu trời, tôi đã sớm có mơ ước được bay đi khắp thế giới. Từ trên cao nhìn xuống mới thấy chuyện trần gian khổ nhọc sao mà nhỏ bé, tôi thấy bình tâm hơn trước dù những khao khát vẫn đang sùng sục trong huyết quản. Tôi trở lại giảng đường đại học để bắt đầu con đường riêng.

Lận đận trong khởi nghiệp

Tôi có ba đứa bạn rất thân cùng phòng trọ. Có lẽ là đứa nghèo nhất trong đám nên tôi cũng là người sùng sục trước nhất về chuyện phải làm ra tiền, phải làm giàu. Tôi nghĩ: Tại sao nông dân trồng cà phê vẫn nghèo trong khi trên thế giới có quốc gia không trồng được cây cà phê nào vẫn giàu vì cà phê? Tại sao cà phê mình chỉ để xuất hạt thô mà không chế biến để xuất khẩu? Bốn thằng chúng tôi cùng chia sẻ suy nghĩ này và hùn tiền lại mua một lò rang cà phê.
Thuận lợi của chúng tôi lúc đó là trong trường có đông sinh viên tứ xứ nên qua họ chúng tôi biết được nơi nào có cà phê ngon. Ở Tuy Hòa có một quán cà phê rất ngon nên ngày nghỉ chúng tôi đi xe đến để hỏi dò bí quyết nơi bà chủ quán. Khi chúng tôi trình bày lý do và nguyện vọng của mình, bà chủ quán thật sự cảm thông với mấy thằng sinh viên khố rách áo ôm. Đêm đến, trở về Buôn Ma Thuột trong chuyến xe khuya, chúng tôi có trong tay bí quyết rang xay cà phê ngon của bà chủ quán tốt bụng.
Ngày khai trương lò rang cà phê, chúng tôi cũng tổ chức cúng để lấy hên, nhưng khi vừa cúng xong thì người bà con của ông chủ nhà về đã hất đổ mọi thứ, cắt bỏ hết dây điện. Chúng tôi đành phải chuyển lò rang đi nơi khác. Lò quay bằng tay, đốt bằng củi, hôm nào rang cà phê, bên dưới là mấy thằng ngồi học bài trên cái gác gỗ như bị nướng trong lò bát quái. Có vài vị hàng xóm sợ có ngày chúng tôi sẽ thiêu rụi nhà họ nên đi báo công an. Thế là một lần nữa lò rang của chúng tôi đành phải dẹp.
Nhưng cũng có người giang tay với chúng tôi. Chúng tôi nhận về mỗi lần vài ba ký, rang, xay, đóng gói và chia nhau đi bỏ mối ở các quán. Sau đó thu tiền lại, trả và mượn tiếp vài ký khác. Logo của những bịch cà phê Trung Nguyên lúc đó là một mũi tên chĩa thẳng lên trời. Hình ảnh đơn giản ấy đã chứa trong đó biết bao khát vọng của tôi.
Thế rồi thương hiệu cà phê Trung Nguyên của nhóm “mấy thằng sinh viên khùng khùng” chúng tôi bắt đầu được chú ý và đã có khách uống cà phê ưa chuộng. Chúng tôi biết tuyển những hạt ngon để làm ra những phin cà phê đậm đà, thơm lừng. Năm 1996, chúng tôi quyết định “bung ra”. Khi “hãng” cà phê Trung Nguyên khai trương bảng hiệu ở cây số 3 (thành phố Buôn Ma Thuột) thì dân cư ở đây ai cũng phì cười trước cái “tổng hành dinh” ọp ẹp phát khiếp ấy! Toàn bộ bảng hiệu của “hãng” đều do chúng tôi bò ra tự vẽ, tự sơn phết cả đêm để kịp sáng mai khai trương. Mà khách hàng ngày khai trương không ai khác chính là những người bạn sinh viên học cùng trường, cùng lớp đến uống chung vui với chúng tôi.
Đó là một sự kiện trọng đại trong đời tôi và lịch sử phát triển của thương hiệu cà phê Trung Nguyên. Ngồi trong cái hãng nhỏ bé đáng tự hào của mình ở phố núi, tôi căng mắt nhìn về hướng Sài Gòn.
Trận đầu trong chuyến “viễn chinh” của chúng tôi đến Tp.HCM thảm bại hoàn toàn. Ngồi trên đống đổ nát mà mình dày công gầy dựng và qua đêm ở công viên với những người bạn, tôi cố gắng để không bị sụp đổ lòng tin và vẫn mãnh liệt nghĩ về ngày mai.
Chúng tôi biết Sài Gòn là mảnh đất đầy tiềm năng để kinh doanh cà phê nhưng hiểu rằng mình chưa đủ sức. Kế hoạch mới của chúng tôi là sẽ mở các điểm kinh doanh ở miền Tây, lấy vùng nông thôn rộng lớn này làm hậu thuẫn cho việc kinh doanh của mình để từ đó làm “bàn đạp bao vây” tiến về Sài Gòn.
Chúng tôi tìm được một đối tác ở Long Xuyên để mở lò rang xay chế biến, phân phối cà phê tại miền Tây. Nhưng chỉ sau một vài tháng, cuộc “hôn phối” vụng về này thất bại hoàn toàn. Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác thất trận ê chề khi lục tục cuốn gói với lỉnh kỉnh những lò cà phê quay tay cũ kỹ, ly tách, phin, muỗng... Sự thất bại này giúp tôi rút ra được một bài học: hợp tác làm ăn phải đồng thuận về tư tưởng, về phương thức kinh doanh, và quan trọng nhất là phải chọn đúng đối tác.
Tôi còn nhớ sau khi dọn hết đồ đạc ở Long Xuyên về Sài Gòn, một người bạn chạy chiếc Honda Dame già cỗi đến đón tôi. Chạy đến công viên Bách Tùng Diệp (ngã ba Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Lý Tự Trọng, Q.1) thì chiếc xe già gãy làm đôi! Tôi không bao giờ quên hình ảnh chúng tôi qua đêm ở công viên. Mỗi lần đi ngang nơi này, tôi vẫn nhớ như in những cảm xúc của sự thất bại ở Long Xuyên và tình bạn ấm áp dưới gốc đa của buổi tối ngày nào.
Thất bại ở Long Xuyên làm chúng tôi cạn kiệt hoàn toàn về vốn liếng, công việc kinh doanh cà phê ở Buôn Ma Thuột cũng gặp nhiều bế tắc, chỉ cầm cự từng ngày. Vốn liếng đâu để tiếp tục duy trì công việc kinh doanh? Lúc đó, chúng tôi có một người bạn thân đã đi làm và dành dụm mua được một chiếc xe Dream. Thời điểm đó chiếc xe là cả một tài sản lớn của anh. Vậy mà chúng tôi dám ngỏ ý mượn xe đem bán làm vốn kinh doanh. Chúng tôi đặt vấn đề: cho mượn thì coi như đã mất và nếu thành công thì chúng tôi trả lại. Người bạn đồng ý.

Bây giờ tôi có thể đủ sức mua cả ngàn chiếc xe Dream nhưng vẫn không có chiếc xe nào quí giá bằng chiếc xe tình bạn của chúng tôi ngày đó. Có tình bạn vô giá đó tôi mới có được ngày hôm nay.

Từ một quán cà phê miễn phí

Tại thời điểm chúng tôi bắt đầu thăm dò thị trường Sài Gòn, mỗi hãng cà phê đều tài trợ cho một quán kha khá khoảng 5 triệu đồng/tháng - quá hớp đối với tài sản chúng tôi đang có chỉ là chiếc xe máy. Chúng tôi đi tìm những điểm bán cà phê nổi tiếng để học hỏi, tìm hiểu bí quyết chế biến rang xay cà phê ngon và được họ “trải lòng” rất đơn giản - bí quyết chỉ có mấy chữ: 10 triệu đồng.
Ngày 20/8/1998 đi vào lịch sử của cà phê Trung Nguyên khi chúng tôi khai trương quán cà phê đầu tiên tại 587 Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận) với hình thức phục vụ uống cà phê miễn phí trong vòng 10 ngày. Và đó là cú đột phá lịch sử với dân khoái uống cà phê Sài Gòn khi lần đầu tiên có một quán cà phê miễn phí. Có một ông khách khoảng 60 tuổi đến uống và nói với tôi: “Tui uống cà phê ở Sài Gòn đến từng này tuổi nhưng đây là lần đầu tiên được uống cà phê không phải trả tiền”.
Quán đông nghịt suốt ngày đêm vì người ta truyền miệng nhau. Chúng tôi và mấy người bạn phục vụ suốt ngày đêm đến nỗi nói không ra tiếng mà trong lòng thì vui không thể tả. Chúng tôi đã định hình Trung Nguyên là quán cà phê mà khách hàng có thể mua hàng, uống cà phê đối chứng bằng cách đưa ra rất nhiều loại cà phê để khách chọn lựa và hướng dẫn cách thưởng thức cà phê “theo kiểu Trung Nguyên”.
Điều khác biệt nhất của Trung Nguyên đối với tất cả các quán cà phê tại thời điểm đó là chúng tôi giúp cho khách hàng thấy được “chất” của cà phê, thấy được sự khác biệt đặc trưng giữa cà phê Robusta và Arabica, giữa Culi Robusta và cà phê Sẻ, cà phê Chồn...
Quán cà phê này vẫn duy trì hoạt động ở địa điểm cũ nhưng chắc ít ai biết chính từ quán cà phê đầu tiên này chúng tôi đã phát triển lên đến con số 500 quán cà phê tại Việt Nam như hiện nay và tiếp tục mở những quán cà phê Trung Nguyên khác tại nước ngoài.

Tặng cà phê cho Thủ tướng!

Khi còn đi vay cà phê để rang, chúng tôi đã dám bỏ tiền ra đăng ký tham gia một hội chợ ở Nha Trang. Bao nhiêu tiền lời chúng tôi làm ăn được đều dồn hết cho cú tiếp thị đầu đời này. Hễ có cơ hội là chúng tôi tìm cách giới thiệu cà phê của mình. Năm 1995, nghe tin Thủ tướng Võ Văn Kiệt về thăm và làm việc với tỉnh Đắc Lắc, tôi nghĩ ngay: phải giới thiệu cho được cà phê Trung Nguyên của mình với Thủ tướng.
Nhưng tiếp cận thủ tướng để tặng một bịch cà phê là điều không tưởng. Lần nào mon men tiếp cận cũng bị bật ra. Không bỏ cuộc, tôi chuyển sang… tặng những gói cà phê này cho các anh cảnh vệ, với lời nhắn là “quà của nhóm sinh viên Đại học Tây Nguyên kính tặng Thủ tướng”. Sau này có dịp ngồi tiếp chuyện bác Sáu Dân (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt), tôi nhắc lại kỷ niệm đó và hỏi là bác có nhận được quà không, ông chỉ cười...
Trung Nguyên còn có thể mở rộng diện ra hơn nữa nhưng lúc này chúng tôi sẽ tập trung vào việc kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù nhượng quyền nhưng mục tiêu của Trung Nguyên vẫn là khẳng định tính đồng nhất: mỗi ly cà phê Trung Nguyên dù bạn thưởng thức tại Thành phố Hồ Chí Minh hay ở thị trấn sông nước Năm Căn hoặc trên phố núi Sa Pa đều có chất lượng, hương vị như nhau..."
(Tuấn Anh - Tổng hợp Gương Doanh Nhân Việt Nam - Trung Nguyen Coffee)
Read more…

Điều ước của 3 cây cổ thụ

9:03 PM |

Điều ước của 3 cây cổ thụ

Ở một khu rừng nọ có ba cây cổ thụ đang bàn luận về tương lai.
Cây thứ nhất nói: “Một ngày nào đó tôi muốn được trở thành chiếc hộp đựng châu báu với hình dáng lộng lẫy”.  Cây thứ hai nói: “Tôi muốn trở thành con thuyền to lớn . Tôi sẽ chở đức vua và hòang hậu đi khắp thế giới”. Và cây thứ ba: “Tôi muốn vươn dài để trở thành cây to lớn nhất trong khu rừng này. Mọi người nhìn lên đồi sẽ thấy tôi vươn xa, chạm đến bầu trời”.

Một vài năm sau đó một nhóm người đặt chân đến khu rừng và cưa những thân cây. Cả ba đều mỉm cười hạnh phúc vì tin mong ước của mình sẽ thành hiện thực.

Khi cây đầu tiên được bán cho một chủ trại mộc, nó được tạo thành máng đựng thức ăn gia súc và đặt trong kho thóc phủ lên bởi một lớp cỏ. Cây thứ hai được bán cho một thợ đóng thuyền đóng thành một chiếc thuyền nhỏ để câu cá. Cây thứ ba bị chặt thành từng khúc và quẳng lại trong bóng đêm. Đây chẳng phải là những điều mà chúng hằng mong đợi.

Một ngày nọ, một cặp vợ chồng đến kho thóc. Người vợ đã đến kỳ sinh nở, người chồng hy vọng tìm được một chiếc nôi cho đứa bé và máng cỏ đã trở thành chỗ ở ấm áp cho em. Cây thứ nhất cảm nhận cảm nhận được sự quan trọng của nó và hiểu rằng mình đang che chở một sinh linh bé nhỏ.

Vài năm sau, một nhóm người đi đánh cá trên chiếc thuyền của cây thứ hai gặp phải một trận bão lớn. Những người trên thuyền đã rất mệt mỏi, nhưng cây thứ hai biết rằng nó có đủ sự vững chãi để giữ an tòan và sự bình yên cho chủ nhân. Với cây thứ ba, một ngày, có ai đó đã đến và nhặt những khúc gỗ. Trên đỉnh đồi, nó được đóng thành một hàng rào ngăn chặn thú dữ. Khi ánh mặt trời vừa ló dạng, cây thứ ba nhận ra rằng nó có đủ sức mạnh để đứng vững trên đỉnh đồi này.

Khi sự việc xảy ra không theo như ý muốn, đừng tuyệt vọng vì mọi việc diễn ra đều có chủ đích. Cà ba cây cổ thụ đều thực hiện được những ước mơ của mình, dù cách thức để đạt đến đích cuối cùng không như mong đợi. Cuộc sống sẽ không phụ những kẻ có lòng. 
Read more…

Điều vụn vặt, điều yêu thương

9:02 PM |

Điều vụn vặt, điều yêu thương

  1 “Trời ơi, gọi nữa... Hôm nay ba gọi cho con hai lần rồi đó. Phiền quá!” - cô gái trẻ gắt gỏng. Giữ cuộc gọi thêm vài phút, cô nhăn mặt cúp máy. Không một lời chào tạm biệt. Vài giây sau, cô quay sang tiếp tục cuộc trò chuyện rôm rả với bạn bè.
Cuộc sống thường nhật ở Sài Gòn - và các đô thị - vốn hối hả, đầy lo toan. Với người bận rộn, việc nhận điện thoại thường xuyên đôi khi là nỗi phiền. Nhiều người trong số họ không sai khi muốn gạt những cuộc gọi vụn vặt, tin nhắn rác ra bên lề để có thêm thời gian cho những cuộc gọi quan trọng khác, để làm việc, học tập.
Trong số những cuộc gọi vụn vặt đó có khi đến từ người thân trong gia đình, những người rất quan tâm đến họ... Nào là chuyện trời kéo mây đen xám xịt và ta có đem theo áo mưa không, chuyện chiều nay nhà nấu món gì và ta có kịp về không... Đột ngột bị cắt ngang khi đang tất bật thảo luận với ai đó về chuyện làm ăn, học hành hay đang nghe giữa chừng một câu chuyện thú vị, vài người dễ nổi quạu.
2 Một đoạn trong cuốn sách Quà của bố của tác giả Trần Đình Dũng không chỉ viết về hai đứa con nhỏ. Đó là đoạn:
Se lạnh, gió lùa, mây thấp, tự nhiên lòng chùng lại, nhớ cuộc điện thoại di động đầu tiên mẹ gọi cho con, trong lúc con đang họp với ông to bà lớn. Con ngưng cuộc họp, nghe ngay khi nhìn thấy chữ Mẹ hiện lên máy. Vẫn nhẹ nhàng, lễ phép, tôn kính như bao giờ cũng thế: “Dạ con đây mẹ, có việc gì không vậy mẹ?”. Đầu dây bên kia chỉ thoáng như tiếng thở dài: “Không có gì đâu, tự nhiên mẹ nhớ con”. Tự nhiên mẹ nhớ con... Tự nhiên như vũ trụ, tự nhiên như mưa nắng, tự nhiên như trời se lạnh sáng nay... Sao con nỡ lòng nào hỏi: “Mẹ gọi có việc gì không?”. Se lạnh, gió lùa, mây thấp...
Lẫn trong vô số những cuộc gọi, tin nhắn quan trọng mà ta nhận mỗi ngày, có những lời nói không nhân một sự kiện cụ thể mà chỉ là sự quan tâm vụn vặt, là thương yêu...
(HÀ THANH-tuoitre.vn)
Read more…

Đường đi dù sai cũng là đường

8:59 PM |

Đường đi dù sai cũng là đường

 -  Ba anh em từ quê lên thành phố mưu sinh, một người tên Qán Trời, một người tên Oán Đất, một người tên Vô Hải. Ba anh em đi cùng nhau, trên đường đi trãi qua 7 ngọn núi, 21 con sông lớn, anh em họ đều đồng tâm hiệp lực. Mấy tháng sau, cuối cùng họ cũng đến một thị trấn náo nhiệt phồn hoa. Ở đây, có ba con đường lớn, trong đó chỉ có một đường có thể đi đến thành phố, nhưng không ai rõ đó là con đường nào.
Oán Trời nói:” Cha chúng ta cả đời dạy chúng ta chỉ có một câu nhắm mắt đưa chân, anh sẽ nhắm mắt chọn đại một con đường, rồi sẽ gặp may thôi”. Anh ta liền chọn con đường rồi bước đi. Oán Đất nói :” Ai bảo chúng ta sinh ra ở quê nghèo, anh không được đi học, không tính được con đường nào có khả năng dẫn đến thành phố nhất, anh sẽ đi con đường lớn bên cạnh đường Oán Trời vậy”. thế là anh ta cũng đi.
Chỉ còn lại một con đường nhỏ, Vô Hải cũng không nắm được chủ ý. Anh ấy nghĩ tới nghĩ lui, quyết định hay là đi vào trong thị trấn hỏi trưởng thôn. Trưởng thôn gặp anh ta, nhưng vẫn lắc đầu nói:”Chưa ai từng vào thành phố, bởi vì nó xa lắm. Nhưng, con trai à, ta có thể nói với con lời của tổ phụ rằng, đường đi dù sai cũng là đường!”
Vô Hải ghi nhớ lời dạy của trưởng thôn, bước đi trên con đường nhỏ, theo đuổi giấc mơ vào thành phố. Những đau khổ, gian nan anh ấy trải qua không gì bằng, mỗi một lần trắc trở, mỗi một lần thất bại đều không quật ngã nổi anh ta. Khi anh ta đứng trước cảnh tuyệt vọng, đều tự nói với chính mình “ đường đi dù sai cũng là đường”, thế là anh ấy vượt qua.
Vào một ngày của 10 năm sau, cuối cùng anh ấy cũng nhìn thấy được thành phố mà mình ngày đêm mơ ước. Bằng sự nhẫn nại và nghị lực của mình, anh ta làm từ chổ thấp nhất là đánh giày, nhặt rác, rửa chén đến một nhân viên bình thường của công ty, cuối cùng anh cũng mở một công ty cho riêng mình.
30 năm sau, Vô Hải đã già, giao công ty lại cho con mình quản lý, còn mình thì về quê tìm hai người anh cùng đi với mình năm xưa. Vẫn là làng quê nghèo khổ ở miền Tây, vẫn là nhà tranh vách lá, Oán Trời và Oán Đất đều ở đó, vẫn là những ngày tháng mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ.
Ba anh em kể lại câu chuyện của mình. Oán Trời đi theo con đường lớn được 5 tháng, đường càng ngày càng hẹp, còn có cả dã thú, nên đành quay đầu về đường cũ. Oán Đất nói con đường anh ấy đi cũng không khác gì con đường của Oán Trời, cuối cùng cũng từ những gian nan mà quay trở về. Oán Trời và Oán Đất hối hận nói:”Lúc đầu, nếu chúng tôi chọn con đường nhỏ mà chú đi thì bây giờ tốt biết mấy”. Vô Hải nghe xong thở dài:” Con đường em đi  so với con đường các anh cũng giống nhau cả.  Điều duy nhất không giống là em không quay đầu. Thực ra, mỗi con đường đều có thể dẫn đến thành phố, đường đi dù sai cũng vẫn là đường”.
Rút ra bài học:
Mũi tên bắn ra không thể quay đầu. Nắng mưa là sự lựa chọn của đêm ngày. Đường trên thế gian này có ngàn vạn đường, thuận theo một con đường rồi bước đi đến cùng, mục tiêu rồi sẽ có ngày đạt được, bởi vì con đường nào rồi “ cũng về La Mã”. Không có con đường sai, chỉ có sai lầm trong phán đoán, sai lầm của người đi trên con đường đó mà thôi.
Đường đi sai cũng là đường, con đường nào có thể bước đi thì đều có hy vọng.

Sông Trà (Internet)
Read more…

Thất bại đó là chuyện bình thường.

8:40 PM |

ABRAHAM LINCOLN KHÔNG BỎ CUỘC

abrahamlincoln
Chào các bạn,
Có lẽ tấm gương lớn nhất về lòng kiên trì là Abraham Lincoln(1809 –1865), một tổng thống vĩ đại của nước Mỹ. Vị tổng thống đã can đảm chấm dứt chế độ nô lệ ở Mỹ và do đó, chế độ nô lệ tại những nơi khác trên thế giới.

Abraham sinh ra trong nghèo khổ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Kiến thức của ông chủ yếu đến từ tự đọc Kinh Thánh, sách tiếu sử, và sách văn chương.
Ông đối diện với thất bại suốt cuộc đời ông. Ông thua tám cuộc bầu cử, hai lần thất bại trong kinh doanh và từng chịu đau đớn suy sụp thần kinh nhiều tháng ròng.
Ông đã có thể bỏ cuộc rất nhiều lần – nhưng ông không làm như vậy bởi vì ông không phải người bỏ cuộc. Ông là nhà vô địch. Ông đã vượt lên tất cả để sau 30 năm, trở thành một trong những tổng thống vĩ đại nhất của lịch sử nước Mỹ.
Trải qua nhiều khó khăn thử thách nhưng ông vẫn quyết tâm thực hiện mục tiêu của mình, vậy thì sao các bạn phải bỏ cuộc.
Chúc các bạn một hành trình kiên trì.
.Sơ lược con đường đến Nhà Trắng của tổng thống Lincoln
• 1816: Gia đình ông bị đuổi khỏi căn nhà của họ vì nghèo. Ông phải đi làm để hỗ trợ gia đình.
• 1818: Mẹ ông qua đời.
• 1831: Kinh doanh thất bại.
• 1832: Tranh cử vào cơ quan lập pháp của tiểu bang – thua.
• 1832: Bị mất việc – muốn vào học trường Luật nhưng không đủ sức vào.
• 1833: Mượn chút tiền của bạn để tạo dựng một doanh nghiệp và cho tới cuối năm ông bị phá sản. Ông dành cả 17 năm sau đó để trả món nợ này.
• 1834: Chạy đua lần nữa vào cơ quan lập pháp tiểu bang – thắng.
• 1835: Đính hôn để tiến tới hôn nhân – người yêu của ông chết và con tim ông vỡ vụn.
• 1836: Suy sụp thần kinh hoàn toàn và nằm bệnh trong sáu tháng.

• 1838: Tranh vị trí phát ngôn viên cho lập pháp của tiểu bang – bị đánh bại.
• 1840: Cố gắng vào danh sách ứng vử viên quốc hội liên bang – bị đánh bại
• 1843: Chạy đua vào quốc hội liên bang – thua.
• 1846: Chạy đua cho Quốc hội lần nữa – lần này ông thắng – đi tới Washington và làm việc tốt.
• 1848: Chạy đua cho vào Quốc hội nhiêm kỳ nữa – thua.
• 1849: Xin làm cán bộ sở đất ở tiểu bang Illinois quê nhà của ông – bị chối bỏ.
• 1854: Chạy đua vào Thượng viện liên bang – thua.
• 1856: Cố để được đề cử vào vị trí ứng cử viên cho Phó tổng thống trong kỳ hội nghị quốc gia của đảng của ông – được vỏn vẹn dưới 100 phiếu bầu.
• 1858: Chạy đua vào Thượng viện liên bang tiếp – lại bị thua.
• 1860: Được bầu làm Thổng thống Mỹ
Cuộc đời của Lincoln chính là cuốn sách mở về lòng kiên trì.
Lincoln nói:
Cái cảm giác “phải đi tiếp” có trong tất cả chúng ta. Nhiệm vụ “cố gắng” là nhiệm vụ của tất cả chúng ta. Tôi cảm được tiếng gọi đến với nhiệm vụ đó.
    The sense of obligation to continue is present in all of us. A duty to strive is the duty of us all. I felt a call to that duty.

Con đường trầy trụa và trơn.
Chân tôi trượt,
Đá chân kia bay ra khỏi đường,
Nhưng tôi hồi phục và tự nhủ,
Đấy là cú trượt chứ không phải cú ngã.
    The path was worn and slippery.
    My foot slipped from under me,
    knocking the other out of the way,
    but I recovered and said to myself,
    It’s a slip and not a fall.
Đừng bao giờ bỏ cuộc!
Read more…